9-10-1954 cũng là ngày đặc biệt

.

ảnh 1Khoảng 6h sáng ngày 9-10-1954, từ 5 cửa ô chính, đoàn quân Việt Minh tiến vào nội thành rồi tỏa đi các nơi giải phóng Thủ đô Hà Nội (Ảnh tư liệu) 

Theo quy luật thời tiết, đầu tháng 10 dương lịch hiếm khi mưa vì đã đến nửa thu, thế nhưng sáng 9-10-1954, một cơn mưa lớn đổ xuống thành phố, đúng lúc đội nhạc binh đang thổi kèn chào lá cờ lần cuối. Lúc đó là 9 giờ sáng. Trên sân vận động Mangin (sau là Sân vận động Cột Cờ), lính lê dương và lính Bắc Phi đứng nghiêm, mắt hướng lên lá cờ ủ rũ vì nước mưa. Họ thuộc Trung đoàn bộ binh Bắc Kỳ, đơn vị ra đi cuối cùng rời Hà Nội mang theo lá cờ Pháp.

Tướng Masson, chỉ huy trưởng lực lượng triệt thoái quân đội Pháp bước ra, ông ta đứng nghiêm và lá cờ được kéo xuống. Hai hạ sĩ quan gấp lá cờ làm bốn sau đó một sĩ quan già đứng nghiêm chờ đón lá cờ. Viên sĩ quan già tiến lên mấy bước, ngực ông ta đeo đầy huân chương trong đó có Bắc Đẩu Bội tinh. Ông chính là Đại tá Argence, người đã ở Bắc Kỳ từ năm 1945. Tướng Masson quay về phía Đại tá Argence ra lệnh ông này tiến lên. Sau khi Đại tá Argence vào vị trí, tướng Masson nói: “Đại tá Argence, ông vinh dự giữ lá cờ này, tôi trao nó cho ông, ông xứng đáng là người ra đi cuối cùng”.

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến

Trên trang Dienbienphu.org đăng các hồi ức của nhiều lính Pháp về ngày rời khỏi miền Bắc theo Hiệp định Genève. Một hạ sĩ quan mô tả lễ hạ cờ trong thành Hà Nội: “Yên lặng bao trùm vừa khớp với mưa gió lẫn nước mưa trên mặt các sĩ quan là những giọt nước mắt lặng lẽ trong sự tuyệt vọng. Tiếng kèn vang lên trong buồn tẻ thống thiết này đánh dấu sự kết thúc của một giai đoạn lịch sử. Lúc đó là 9 giờ sáng. 75 năm hiện diện của nước Pháp mà nay ra đi với lá cờ này”. 

Cờ nước Pháp lần đầu treo ở cột cờ thành Hà Nội ngày 20-11-1873, sau khi quân Pháp chiếm được thành. Người ra lệnh treo cờ Pháp là viên sĩ quan Francis Garnier và ông ta đã chết ở Cầu Giấy ngày 21-12-1873 khi đánh nhau với quân Cờ Đen.

Sau khi làm lễ hạ cờ xong, một số đi chào tạm biệt những người đồng đội đã chết ở nghĩa trang, một số khác về doanh trại thì thầm bàn tán tương lai sau khi về Pháp. 14 giờ chiều họ được lệnh tập trung và đúng 16 giờ, họ đặt chân lên cầu Long Biên đi xuống vùng đệm Hải Phòng.

Ngày 9-10-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài đăng trên Báo Nhân dân, số 237 dưới đầu đề: “Giữ gìn trật tự an ninh”, ký bút danh C.B. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các đơn vị bộ đội vào thành Hà Nội phải thực hiện nghiêm 10 điều kỷ luật đã công bố trước đó. Trong 10 điều kỷ luật có 4 điều bộ đội nên tránh: “Chớ tự kiêu, tự mãn. Chớ rượu chè, cờ bạc, trai gái, hút thuốc phiện. Chớ để lộ bí mật. Chớ xa xỉ, tham ô, lãng phí”, và 6 điều bộ đội phải làm là: “Phải kính trọng nhân dân, giúp đỡ nhân dân, đoàn kết với nhân dân. Phải khiêm tốn, nghiêm chỉnh. Phải giữ gìn tính chất trong sạch, chất phác của người chiến sĩ cách mạng. Phải thực hành cần, kiệm, liêm, chính. Phải làm đúng 10 điều  kỷ luật. Phải luôn luôn cảnh giác. Phải thực hiện tự phê bình và phê bình để tiến bộ không ngừng”. 10 điều kỷ luật này thể hiện sự kịp thời, sâu sát thực tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giáo dục bộ đội để họ không vi phạm kỷ luật khi về tiếp quản. 

Trong bài báo, Người viết: “Suốt 8 năm kháng chiến, các chú đã làm kiểu mẫu anh dũng, do đó mà chúng ta đã thắng lợi. Ngày nay chúng ta về thành thị, các chú cũng phải làm kiểu mẫu đúng đắn, để tranh lấy thắng lợi trong hòa bình”, chỉ có làm được như vậy nhân dân Hà Nội mới quý mến và tôn trọng và nhiệm vụ mới hoàn thành.

Cũng trong ngày 9-10, Ủy ban Quân chính Hà Nội được thành lập. Theo kế hoạch tiếp quản Thủ đô, các tổ tự vệ, Công an nội thành làm nhiệm vụ dẫn đường cho các lực lượng tiếp thu từng công sở, xí nghiệp, vị trí quân sự, từng đường phố, thôn xã.

Nguồn: anninhthudo.vn